Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại không khởi kiện?

Chồng tôi đi xe máy uống rượu say nên trên đường đi làm về đã gây ra tai nạn giao thông và làm chết một người đi bộ sang đường. Sau đó gia đình tôi đã gặp gỡ gia đình người bị hại  và đã thực hiện việc bồi thường đầy đủ các chi phí cho họ, gia đình người bị hại cũng có đơn xin không xử lý hình sự đối với chồng tôi. Đề nghị Luật sư tư vấn, chồng tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự nữa không? (Phạm Thị Hiền - Bắc Giang)


Luật gia Nguyễn Tùng Hoa - Công ty Luật TNHH Everest, Tổng đài tư vấn 1900 6218 - Trả lời:

Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại không khởi kiện?Chúng tôi trích dẫn một số quy định của pháp luật để chị tham khảo, như sau:
Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (BLHS) quy định:
“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: …b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.” (điểm b khoản 2 Điều 202)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 (BLTTHS) quy định:
“Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” (khoản 1 Điều 105)

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật về hình sự, thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

Nếu chồng chị vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng của người khác thì chồng chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 BLHS. Do tội phạm quy định tại Điều 202 BLHS không phải thuộc nhóm các tội phạm chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS, bởi vậy, mặc dù gia đình chị đã bồi thường thiệt hại về vật chất, đồng thời gia đình người bị hại cũng có đơn không xử lý hình sự nhưng chồng chị vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Việc gia đình chị đã chủ động bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân sẽ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi như thế nào

(Lao Động) - Vừa qua, vợ chồng tôi phát hiện một đứa trẻ 4 tuổi bị bỏ rơi. Chúng tôi muốn làm khai sinh cho cháu. Đề nghị luật sư cho biết trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh trong trường hợp này được pháp luật quy định như thế nào (Vân Quỳnh).


Tiến sỹ, luật sư Vũ Thái Hà - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - trả lời:


Khoản 3 Điều 13 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định 158/2005/NĐ-CP) quy định: “Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó”.
Về trình tự thủ tục khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi được quy định tại Điều 16 Nghị định 158/2005/NĐ-CP, cụ thể:
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi không phải là trẻ sơ sinh, thì người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo ngay cho UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.
Biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, địa chỉ của người phát hiện. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại UBND cấp xã, nơi lập biên bản, một bảo giao cho người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.
UBND cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình có trách nhiệm thông báo miễn phí 3 lần trong 3 ngày liên tiếp các thông tin về trẻ bị bỏ rơi. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ, thì người hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật về hình sự, thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Khi đăng ký khai sinh, những nội dung liên quan đến khai sinh được ghi theo lời khai của trẻ; nếu trẻ không nhớ được thì căn cứ vào thể trạng của trẻ để xác định năm sinh, ngày sinh là ngày 1 tháng 1 của năm đó; họ, tên của trẻ được ghi theo đề nghị của người đi khai sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam; những nội dung không xác định được thì để trống. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “trẻ bị bỏ rơi”.
Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, khi phát hiện ra trẻ bị bỏ rơi, bà cần báo ngay cho UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản. Sau khi thông báo các thông tin của trẻ bị bỏ rơi trên Đài phát thanh hoặc đài truyền hình, mà không tìm thấy cha, mẹ đẻ của trẻ bị bỏ rơi, thì bà có trách nhiệm đến UBND cấp xã, nơi cư trú của vợ chồng bà để làm các thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế

(Lao động) - Tôi được cô ruột và dượng (không có con) nhận nuôi từ năm 1981, lúc đó tôi 12 tuổi. Tôi chuyển hộ khẩu về sống chung với ba mẹ nuôi từ đó cho đến nay, nhưng chưa làm thủ tục con nuôi theo quy định. Vừa qua, gia đình tôi đã làm đơn xin Chứng nhận nuôi con nuôi thực tế tại UBND phường, nhưng được thông báo hồ sơ của tôi không được chấp nhận vì tôi quá 16 tuổi. Đề nghị chuyên mục tư vấn, việc đăng ký nuôi con nuôi thực tế của gia đình tôi có thể thực hiện được không.


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh -  Công ty Luật TNHH Everest  - trả lời:


Theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, thì: Người được nhận làm con nuôi là: 1- Trẻ em dưới 16 tuổi; 2- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.  Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi. Căn cứ các quy định trên, tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, anh (chị) có đủ điều kiện được nhận làm con nuôi.
Tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi quy định, người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Có tư cách đạo đức tốt. Những người không được nhận con nuôi: Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;  Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về điều kiện: hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Do anh (chị) chưa nêu rõ trong thư, chúng tôi giả thiết cha mẹ nuôi của anh (chị) đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Như vậy, việc đăng ký nuôi con nuôi của gia đình anh (chị) có thể thực hiện theo quy định tại Điều 50 Luật nuôi con nuôi: Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật nuôi con nuôi có hiệu lực (01.01.2011) mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật nuôi con nuôi có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện: Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;  Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống; Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con (khoản 1). Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi nêu trên có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi (khoản 2).

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Chia tài sản chung khi ly hôn có nguồn gốc là tài sản riêng của vợ, chồng

(Lao động) - Trước khi kết hôn, chồng tôi được bố mẹ cho thửa đất để xây nhà. Sau kết hôn, vợ chồng tôi đã xây dựng căn nhà 03 tầng trên mảnh đất này (bằng tiền do bố mẹ chồng cho). Sau đó, chúng tôi nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở mang tên hai người. Nay chúng tôi ly hôn, tôi có quyền yêu cầu chia tài sản này không (Nguyễn Bích Hạnh, Cầu Giấy, Hà Nội).


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh -    Công ty Luật TNHH Everest  - trả lời:


Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thì: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cũng quy định cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng (tại khoản 1 Điều 29, Điều 30, Điều 32): Tài sản riêng của vợ, chồng gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; Tài sản được chia riêng trong trường hợp vợ, chồng thoả thuận (bằng văn bản) chia từ khối tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại để đầu tư kinh doanh riêng và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản có được trong trường hợp này.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Như vậy, quyền sử dụng thửa đất và căn nhà trên đất có nguồn gốc là tài sản riêng của chồng chị. Tuy nhiên, sau đó vợ, chồng chị làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và trên Giấy chứng nhận này ghi tên của cả hai vợ chồng, có nghĩa là hai người đã thỏa thuận gộp khối tài sản riêng thành tài sản chung. Vợ, chồng chị có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Trường hợp vợ, chồng chị có đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn, chị có quyền yêu cầu được chia khối tài sản trên.

Theo Báo Lao động, ngày 26.03.2012.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Thủ tục đơn phương ly hôn

Tôi muốn đơn phương ly dị phải làm thủ tục gì (Vũ Quỳnh Nga)



Thủ tục đơn phương ly hônThạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:


Theo thông tin mà chị cung cấp, hôn nhân của chị với người chồng lại hôn nhân hợp pháp, nay chị muốn ly hôn thì thủ tục ly hôn được giải quyết theo quy định chung của pháp luật. Khoản 1, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn”. Như vậy, chị có thể đơn phương gửi đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn của mình.
Hồ sơ bao gồm: (i) Đơn xin ly hôn; (ii) Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; (iii) Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên đơn và bị đơn; (iv) Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của nguyên đơn và bị đơn; (v) Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…; (vi) Bản sao giấy khai sinh của các con.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của chồng chị (bị đơn) thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại điểm a, khoản 1, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS). Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Tại điểm a, khoản 1, Điều 33 BLTTDS quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc TAND cấp huyện, nên trường hợp này chị nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng chị cư trú, làm việc cuối cùng (mà chị biết).
Lưu ý rằng, theo quy định của Điều 52 Bộ luật dân sự 2005, thì “1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. 2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 52 BLDS) thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 58, điểm a, khoản 1 Điều 59 BLTTDS, chị có nghĩa vụ “cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Do đó chị cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nơi cư trú cuối cùng của chồng chị cho tòa án nơi chị nộp đơn.
Khi nhận và thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị, theo quy định tại Điều 146 BLTTDS, tòa án có nghĩa vụ “cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự”. Trong trường hợp này, tòa án sẽ thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 154 BLTTDS, như sau: “2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây: a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo; b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo; c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết. 3. Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết”.
Nếu tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà chồng chị cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu chồng chị vẫn không có mặt tại phiên tòa thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị đơn (theo quy định tại Điều 200 BLTTDS).
Như vậy, chị cần gửi đơn đến tòa án có thẩm quyền theo các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên để được tòa thụ lý giải quyết theo luật định.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới

Pháp luật quy định như thế nào về việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới (Phạm Việt Phương).


Tiến sĩ, Luật sư Vũ Thái Hà - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - trả lời:


Điều 21, Nghị định 19/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định 19) ghi rõ: Người nước ngoài cư trú ở khu vực biên giới của nước láng giềng nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới của Việt Nam làm con nuôi phải có đơn, kèm theo các giấy tờ sau đây do cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng cấp: a) Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; b) Phiếu lý lịch tư pháp; c) Văn bản xác nhận về việc người nhận con nuôi có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật nước đó; d) Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân; đ) Giấy khám sức khỏe; e) Hai ảnh mới nhất, chụp toàn thân, cỡ 9cm x 12cm hoặc 10cm x 15cm.

Các giấy tờ này phải được dịch ra tiếng Việt, lập thành 2 bộ hồ sơ. Người nhận con nuôi phải nộp 2 bộ hồ sơ của mình, kèm theo 2 bộ hồ sơ của trẻ em được nhận làm con nuôi cho UBND cấp xã nơi thường trú của trẻ em được nhận làm con nuôi; mỗi bộ hồ sơ của trẻ em gồm các giấy tờ quy định tại Điều 18 của Luật Nuôi con nuôi. Khi nộp hồ sơ, người nhận con nuôi phải xuất trình Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế để kiểm tra và nộp lệ phí đăng ký nuôi con nuôi tại UBND cấp xã theo quy định tại khoản 1, Điều 40 của nghị định này. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người liên quan theo quy định tại Điều 9 của nghị định này và có văn bản gửi Sở Tư pháp kèm theo 1 bộ hồ sơ của người nhận con nuôi và 1 bộ hồ sơ của trẻ em để xin ý kiến. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của UBND cấp xã, Sở Tư pháp xem xét hồ sơ xin nhận con nuôi và trả lời bằng văn bản cho UBND cấp xã. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý của Sở Tư pháp, thì UBND cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi và tiến hành giao nhận con nuôi theo thủ tục quy định tại Điều 10 của nghị định này; trường hợp Sở Tư pháp không đồng ý thì UBND cấp xã trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người nhận con nuôi.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Đối với thủ tục giải quyết việc công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới nhận trẻ em của nước láng giềng cư trú ở khu vực biên giới làm con nuôi được quy định tại Điều 22, Nghị định 19. Cụ thể như sau: Phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi và các điều kiện theo quy định pháp luật của nước láng giềng. Hồ sơ xin nhận con nuôi phải có các giấy tờ theo quy định tại Điều 17 của Luật Nuôi con nuôi và các giấy tờ khác theo quy định pháp luật của nước láng giềng; số bộ hồ sơ được lập theo quy định pháp luật của nước láng giềng. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, người nhận con nuôi nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp. Sở Tư pháp kiểm tra hồ sơ và xác nhận, nếu người đó có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi. Sau khi đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng, người nhận con nuôi phải làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại UBND xã, nơi người đó thường trú.

Theo Báo Hà Nội Mới, ngày 08.12.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Thủ tục kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam

(Lao động) - Tôi là công dân Việt Nam, anh ấy là người Pháp. Chúng tôi muốn kết hôn tại Việt Nam. Đề nghị Luật sư tư vấn về điều kiện, thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài (Phương Thảo, Hải Dương).
Thủ tục kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam


Luật sư Phạm Ngọc Minh, Công ty TNHH YouMe - trả lời:


Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) quy định về điều kiện kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài: Mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn (Điều 103).

Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP (ngày 10/07/2002, quy định chi tiết thi hành một số điều về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài của Luật HN&GĐ) và Nghị định 69/2006/NĐ-CP (ngày 21/07/2006, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP), theo đó:

Hồ sơ đăng ký kết hôn được lập thành 02 bộ, nộp tại Sở Tư pháp, gồm: (1) Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định; (2) Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 06 tháng, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng. Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng; (3) Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; (4) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực Giấy CMND (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài); (5) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy tờ tương đường đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).

Công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước còn phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn, cả hai bên đương sự phải có mặt. Trong trường hợp có lý do khách quan mà một bên không thể có mặt được thì phải có đơn xin vắng mặt và uỷ quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam là 30 ngày, kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu cơ quan Công an xác minh, thì thời hạn được kéo dài thêm 20 ngày.  Lễ đăng ký kết hôn được tổ chức trong thời hạn 07 ngày tại trụ sở Sở Tư pháp, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn, trừ trường hợp có lý do chính đáng, nhưng không quá 90 ngày. Hai bên nam, nữ kết hôn phải có mặt tại Lễ đăng ký kết hôn. Đại diện Sở Tư pháp, yêu cầu hai bên cho biết ý định lần cuối về sự tự nguyện kết hôn; nếu hai bên đồng ý kết hôn thì ghi việc kết hôn vào sổ đăng ký kết hôn, yêu cầu từng bên ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn, sổ đăng ký kết hôn và trao cho vợ, chồng mỗi người 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

Theo Báo Lao động, ngày 6.10.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

(Lao động) - Chị tôi lấy chồng đã 03 năm nhưng vẫn không có con. Khi đi khám bác sĩ cho biết, hai vợ chồng bị vô sinh và có tư vấn cho việc sinh con theo phương pháp khoa học. Đề nghị luật sư tư vấn, về vấn đề xác định cha, mẹ cho con nếu thực hiện việc sinh con theo phương pháp này? Giả sử sau khi anh chị tôi thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản bằng việc xin tinh trùng hoặc trứng của người khác mà có được con, nhưng người cho biết được, đòi quyền lợi đối với đứa trẻ sẽ giải quyết thế nào 


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Vấn đề anh chị hỏi được quy định trong Nghị định 12/2003/NĐ-CP, ngày 10/02/2003, về sinh con theo phương pháp khoa học. Theo đó, pháp luật hiện đang quy định hai phương pháp để thực hiện việc sinh con bằng phương pháp khoa học là: Thụ tinh nhân tạo (thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi.) và Thụ tinh trong ống nghiệm (là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi).

1. Việc xác định cha, mẹ cho trẻ sinh ra bằng phương pháp khoa học:
Đối với trường hợp vợ chồng sử dụng noãn và tinh trùng của hai người để thực hiện việc sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, thì đứa trẻ sinh ra sẽ chính là con của họ.
Đối với trường hợp, vợ chồng thực hiện việc sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà phải sử dụng noãn hoặc tinh trùng hoặc phôi của người khác, thì việc xác định cha, mẹ cho đứa trẻ sinh ra, như sau:
Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân.
Người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân sinh ra đứa trẻ do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định là cha, mẹ đối với trẻ được sinh ra (Điều 20).
Như vậy, trường hợp hai vợ chồng (nhận tinh trùng, hoặc nhận noãn) để thực hiện sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản, thì đứa trẻ phải được sinh được xác định là con của họ (pháp luật không công nhận người cho tinh trùng, hoặc cho noãn là cha, mẹ của đứa trẻ).

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

2. Đối với vấn đề giữ bí mật thông tin: Nghị định đã có quy định cụ thể đảm bảo nguyên tắc bí mật và quyền lợi của người có liên quan, như sau:
“1. Các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. 2. Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải theo đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành. 3. Việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; cho noãn, nhận noãn; cho tinh trùng, nhận tinh trùng; cho phôi, nhận phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện. 4. Việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc bí mật” (Điều 4).
Nghị định quy định: không cho phép tiết lộ về nhân thân của người cho noãn, nhận noãn, cho tinh trùng và nhận tinh trùng (khoản 4 Điều 7, khoản 3 Điều 8, khoản 6 Điều 11).
Đồng thời, người con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi (Điều 21).

Theo Báo Lao động, ngày 23.07.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Đơn phương ly hôn khi một bên đang sống ở nước ngoài


(Lao động) - Vợ tôi đang định cư ở nước ngoài. Vừa qua, tôi được biết, vợ tôi đang sinh sống như vợ chồng và đã có con 02 tuổi với người đàn ông khác. Nay tôi muốn ly hôn, nhưng vợ tôi không đồng ý và giấu địa chỉ nơi ở hiện tại để tôi không liên lạc được. Đề nghị được tư vấn, tôi có thể ly hôn không, cơ quan nào giải quyết (Văn Lâm, Hà Tĩnh).


Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:


1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ): “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn” (Điều 85).
Trường hợp như anh nêu trong thư: Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa hai vợ chồng anh là công dân Việt Nam, mà một bên (vợ anh) định cư ở nước ngoài, được xác định là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài (khoản 4 Điều 100).  Do vợ anh là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam và hai người không có nơi thường trú chung, nên pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng để giải quyết ly hôn (khoản 2 Điều 104). TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn, có yếu tố nước ngoài (khoản 3 Điều 102).
Như vậy, thì theo quy định này, anh có quyền đơn phương xin ly hôn. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là TAND cấp tỉnh, nơi anh cư trú.

2. Theo Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP (ngày16/04/2003, của Hội đồng Thẩm phán TANDTC,  hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, HN&GĐ), trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:
Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định khi không tìm được địa chỉ của bị đơn và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.
Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở UBND cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng (điểm b, tiểu mục 2.1, Phần II).

Theo Báo Lao động, ngày 02.08.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Giải quyết việc ly hôn khi không có đăng ký kết hôn

(Lao động) - Chúng tôi chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ năm 2004 và đã có 2. Nay, do mâu thuẫn, chúng tôi muốn chia tay. Đề nghị Luật sư tư vấn, chúng tôi có phải làm đơn đề nghị tòa án giải quyết ly hôn không; Quyền nuôi con và việc chia tài sản của chúng tôi được pháp luật quy định như thế nào (Thu Huyền, Hải Phòng).


Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:


1. Theo quy định ại các điều 11, 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ), việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan đăng ký kết hôn thực hiện theo nghi thức, như sau: phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn; đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định này đều không có giá trị pháp lý. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, ngày 03/01/2001, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội “về việc thi hành Luật HN&GĐ quy định cụ thể về trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký muốn chia tay như sau: đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng.
2. Vấn đề nuôi con và chia tài sản chung trong trường hợp hai bên nam nữ sống chung không có đăng ký kết hôn, nay xin ly hôn áp dụng tương tự như trường hợp vợ chồng ly hôn (khoản 2, khoản 3 Điều 17 Luật HN&GĐ). Do đó, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con (áp dụng theo Điều 92 Luật HN&GĐ): Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Vấn đề chia tài sản được giải quyết theo nguyên tắc: Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

Theo Báo Lao động, ngày 27.8.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

(Lao động) - Tôi và vợ cũ có một con chung 04 tuổi. Sau khi ly hôn, con tôi về sống với mẹ. Gần đây, vợ cũ của tôi không cho tôi gặp con, mặc dù tôi vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đề nghị được tư vấn, pháp luật cho phép vợ cũ được hạn chế việc thăm con của tôi không. Vì muốn gần con và có điều kiện chăm sóc cháu tốt hơn, tôi xin trực tiếp nuôi con có được không (Xuân Trường, Vinh).


Luật sư Nguyễn Văn Sinh - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - trả lời:


1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ), tại Điều 92 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn: “Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
Điều 94 Luật HN&GĐ quy định về quyền thăm nom con sau khi ly hôn: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.  Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.
Như vậy, sau khi ly hôn việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên là quyền và đồng thời là nghĩa vụ của cha, mẹ đứa trẻ, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này. Luật chỉ quy định duy nhất một trường hợp hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con, khi người trực triếp nuôi con cho rằng việc thăm nom con của người kia ảnh hưởng xấu đến đứa trẻ. Tuy nhiên, họ không được tự mình thực hiện mà phải yêu cầu yêu cầu Toà án ra quyết định.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

2. Vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, được quy định tại Điều 93 Luật HN&GĐ: “Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên”.
Căn cứ các quy định trên, anh có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án sẽ có quyết định trên cơ sở các căn cứ do anh cung cấp hoặc/và Tòa án thu thập được, chứng minh rằng quyền lợi của đứa trẻ đã bị ảnh hưởng, bao gồm cả hành vi cản trở bố thăm nom con.

Theo Báo Lao động, ngày 01.09.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Ly hôn và phân chia tài sản đối với người bị tòa án tuyên bố mất tích

Chồng tôi đi khỏi nhà từ năm 2006, tôi đã bỏ nhiều công sức tìm kiếm nhưng không có thông tin gì. Trong quá trình chung sống, vợ chồng tôi có một con và tích lũy được một số tài sản. Nay tôi muốn bán số tài sản đó và tính chuyện kết hôn với người khác, nhưng bị gia đình nhà chồng ngăn cản. Đề nghị luật sư cho biết, tôi phải làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:


Điều 78 Bộ luật Dân sự hiện hành (BLDS 2005) quy định, khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích... Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Căn cứ quy định trên, bà Hà Thị Mai có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân nơi cư trú, kèm theo chứng cứ chứng minh chồng của bà đã biệt tích 2 năm liền trở lên để yêu cầu tuyên bố ông ấy mất tích. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm chồng của bà trên các phương tiện thông tin đại chúng. 15 ngày sau khi hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo, Tòa án sẽ mở phiên họp xét đơn của bà. Nếu đủ căn cứ, Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố chồng của bà mất tích (theo quy định tại các điều 330, 331, 332 Bộ luật TTDS).

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

Sau khi có quyết định tuyên bố chồng của mình bị mất tích, bà có thể gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình, bà sẽ được Tòa án giải quyết cho ly hôn và quyết định cho ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay cả khi chồng của bà trở về hay có tin tức xác thực là còn sống (quy định tại Khoản 3 Điều 80 BLDS). Việc chia tài sản chung khi ly hôn sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình, dựa trên nguyên tắc chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì phát triển tài sản đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con. Khối tài sản thuộc chồng của bà sẽ được giao cho cha, mẹ chồng hoặc người thân thích của chồng quản lý, nếu không có những người này thì Tòa án chỉ định người quản lý (quy định tại Điều 79 BLDS).

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân

(Lao động) - Chồng tôi gần đây thường lấy tiền và đồ của gia đình đi chơi cờ bạc. Tôi muốn phân định tài sản của hai vợ chồng, để giữ tiền nuôi con ăn học. Đề nghị được tư vấn, tôi không ly hôn, nhưng muốn chia tài sản chung có được không. Sau khi chia, hậu quả đối với tài sản này, nếu có, như thế nào (Thu Hiền, Hòa Bình).

Luật sư Nguyễn Văn Sinh - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - trả lời:


1. Vấn đề chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ): Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết;Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận (Điều 29).

Như vậy, theo quy định trên, khi có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi.

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, ngày 3/10/2001, qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ, có hướng dẫn:

Việc chia tài sản sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung: Lý do chia tài sản; Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; Phần tài sản còn lại không chia, nếu có; Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; Các nội dung khác, nếu có.

Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thoả thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về việc chia tài sản chung, thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết (Điều 6).

2. Hậu quả chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân, theo quy định tại Điều 30 Luật HN&GĐ và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP, như sau:

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.

Theo Báo Lao động, ngày 13.08.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Cam kết trước khi kết hôn có hiệu lực pháp luật hay không?

Vợ chồng tôi chỉ có một con trai, nay cháu lại muốn kết hôn với một cô gái mà gia đình cô ấy không "môn đăng hộ đối" với gia đình tôi. Tôi xin hỏi luật sư, vợ chồng tôi có thể yêu cầu trước khi cưới, con trai tôi và cô gái ấy phải ký cam kết không phân chia tài sản nếu ly hôn, hay không (Đỗ Thị Mão).


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời?


Nam nữ kết hôn phải "môn đăng hộ đối" là tư tưởng lạc hậu, cần loại bỏ, song tiếc rằng, đây đó vẫn còn một số người suy nghĩ như trên. Để bạn đọc nói chung, bà Đỗ Thị Mão nói riêng tham khảo, tôi xin nêu những quy định của pháp luật về việc kết hôn.
Trước hết về điều kiện kết hôn, theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9-6-2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2001 (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000), nam nữ có quyền kết hôn, nếu đáp ứng các điều kiện sau: nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của luật này. Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định các trường hợp cấm kết hôn như sau: người đang có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

Trường hợp con trai của bà Đỗ Thị Mão và cô gái ấy đủ điều kiện kết hôn và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định nêu trên thì họ có quyền kết hôn với nhau và không phải làm bất kỳ một cam kết nào, với bất kỳ người nào. Còn về "cam kết không phân chia tài sản nếu ly hôn", cần được hiểu rằng cam kết này thuộc giao dịch dân sự. Theo Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005, điều kiện tiên quyết để giao dịch dân sự có hiệu lực là "người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện", việc bà Đỗ Thị Mão yêu cầu con trai của mình và cô gái nọ phải ký cam kết không phân chia tài sản nếu ly hôn là cản trở việc kết hôn của họ, việc làm này trái quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã nêu ở trên. Mặt khác, nếu họ do muốn kết hôn nên phải đồng ý cam kết như bà yêu cầu thì trên thực tế, việc cam kết đó không có hiệu lực, vì không xuất phát từ sự tự nguyện của người viết cam kết.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Tài sản riêng của vợ chồng


(Lao động) - Tôi được cơ quan cấp 1 thửa đất 80m2 vào giữa năm 2003. Tôi đã làm nghĩa vụ tài chính và các thủ tục với cơ quan để được cấp sổ đỏ. Thời điểm này tôi chưa kết hôn nên mọi thủ tục, giấy tờ để làm sổ đỏ chỉ ghi tên tôi. Cuối năm 2003 tôi đăng ký kết hôn. Đến tháng 3 năm 2004 tôi mới nhận được sổ đỏ (trên sổ đỏ ghi ngày 12/3/2004 và chỉ có một mình tôi đứng tên. Vậy thửa đất này có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi không ? Nếu phải chứng minh lô đất này là tài sản riêng thì tôi cần.


Tài sản riêng của vợ chồngLuật sư Vũ Thái Hà - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - trả lời:


Theo khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (HN&GĐ), tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung. Căn cứ theo quy định này và những thông tin mà ông cung cấp, có thể khẳng định thửa đất của ông được cơ quan cấp năm 2003 không phải là tài sản chung của vợ chồng (trừ khi ông và vợ đã có thoả thuận nhập thửa đất này vào khối tài sản chung của vợ chồng) cho dù ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ngày sau thời điểm đăng ký kết hôn vì khối tài sản này được cơ quan cấp cho riêng ông và ngày cấp đất là ngày trước thời điểm đăng ký kết hôn.
Tài sản hoặc khối tài sản sẽ được coi là tài sản riêng của vợ, chồng nếu đáp ứng được quy định của Điều 32 Luật HN&GĐ: tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Do đó, để chứng minh thửa đất này là tài sản riêng của ông, ông cần phải cung cấp các giấy tờ chứng minh thửa đất này là tài sản mà ông có trước khi kết hôn và được cơ quan cấp cấp riêng cho ông. Các giấy tờ này có thể bao gồm: quyết định phân, cấp đất của cơ quan, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Theo Báo Lao động, ngày 21.7.2011.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn

Vợ chồng tôi đã có "quyết định công nhận thuận tình ly hôn" của tòa án. Khi phân chia tài sản chung thì xảy ra tranh chấp vì giữa tôi và anh ấy không thỏa thuận được về giá trị khối tài sản bằng hiện vật. Chúng tôi cần làm gì để phân chia khối tài sản này (Nguyễn Thị Đào).


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:


Theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình, việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo nguyên tắc chia đôi... Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 quy định: "Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau: theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; các bên thỏa thuận theo mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí. Hội đồng định giá do Tòa án quyết định thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng và các thành viên là đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan. Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện UBND cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá. Việc định giá phải được ghi thành biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, của đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên vào biên bản".

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Căn cứ các quy định trên, khi phân chia khối tài sản chung bằng hiện vật, nếu có sự tranh chấp, để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên, bà  hoặc người chồng có thể làm đơn yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn của vợ chồng ông bà tiến hành định giá khối tài sản chung đó.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn

Vợ chồng tôi có hai con, con lớn 10 tuổi, con nhỏ 2 tuổi rưỡi. Nay chúng tôi ly hôn, tôi muốn nuôi cả hai con có được không, hay mỗi người chỉ được nuôi một con? Việc chăm sóc, thăm nom con sau khi ly hôn được giải quyết như thế nào.


Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:


Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Luật Hôn nhân và Gia đình) quy định: "Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; "nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác". Căn cứ nội dung điều luật viện dẫn trên, vợ chồng chị Lê Thị Lan có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, theo nguyên tắc, con nhỏ của chị mới 2 tuổi rưỡi, sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, còn con lớn 10 tuổi, việc thỏa thuận hoặc quyết định ai là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu phải xem xét đến nguyện vọng của cháu xem cháu muốn sống với ai.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.


Việc chăm sóc, thăm nom con sau khi vợ chồng ly hôn căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: "Nếu cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết". Quyền thăm nom con sau khi vợ chồng ly hôn được quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình: "Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này". Tuy nhiên, nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền này gây ảnh hưởng xấu đến con hoặc làm cản trở việc chăm sóc, giáo dục con, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật là "hạn chế quyền thăm nom con" của người đó.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Kết hôn trái pháp luật Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp. Điều đó có nghĩa, chỉ khi tuân thủ các điều kiện kết hôn, thì cuộc hôn nhân mới có giá trị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng. Kết hôn trái pháp luậtCó thể hiểu, kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định, cụ thể vi phạm về độ tuổi, về ý chí, vi phạm các trường hợp cấm kết hôn do pháp luật quy định. Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì, nam nữ kết hôn với nhau phải tuân thủ các điều kiện như: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở và việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn. Cụ thể, việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp: Đối với người đang có vợ hoặc chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn Độ tuổi là một trong số những điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 với nội dung như sau: "Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên". Theo đó, vi phạm về độ tuổi kết hôn là trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độ tuổi còn được gọi là tảo hôn. Ngày nay, xã hội đã có những bước phát triển lớn, cách nhìn nhận của con người về hôn nhân, gia đình đã đúng đắn hơn rất nhiều, hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi phần lớn chỉ còn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, thiểu số. Đường lối xử lý cũng hết sức mềm dẻo, căn cứ vào tình trạng thực tế của cuộc hôn nhân mà có trường hợp xử hủy kết hôn trái pháp luật, có trường hợp không hủy kết hôn. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam nữ được pháp luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận và quy định những điều kiện riêng. Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữ khi kết hôn, theo đó "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở". Trái ngược với sự tự nguyện đó chính là những hành vi ép buộc, lừa dối hoặc "cưỡng ép, cản trở" các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân là những hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Kết hôn vi phạm sự tự nguyện là một hiện tượng diễn ra khá phổ biến trong xã hội phong kiến, nhất là đối với những gia đình có địa vị thấp kém trong xã hội. Ngày nay, hiện tượng này chủ yếu tồn tại ở một số dân tộc miền núi điển hình như tục "cướp vợ" của người H’Mông. Kết hôn với những người đang có vợ hoặc có chồng Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đã khẳng định một trong những nguyên tắc của hôn nhân đó là hôn nhân một vợ - một chồng. Do đó, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đã có chồng hoặc đã có vợ là kết hôn trái pháp luật. Đây chính là bản chất tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật về Hôn nhân và gia đình của nước ta - một nước xã hội chủ nghĩa so với nhà nước phong kiến hoặc tư sản. Theo pháp luật Việt Nam, thì một người đã có vợ hoặc có chồng nhưng vợ hoặc chồng đã chết, thì được kết hôn với người khác. Sự kiện một người chết có thể hiểu theo hai ý, đó là chết sinh học và chết pháp lý. Điều cần lưu ý ở đây chính là trường hợp chết pháp lý, tức là một người bị Tòa án tuyên bố chết nhưng sau đó lại trở về. Một trường hợp nữa vẫn tồn tại ở Việt Nam đến tận bây giờ đó là những quan hệ hôn nhân xác lập trước ngày Nghị quyết số 76 ngày 25/3/1977 của Quốc hội về việc "Thống nhất pháp luật giữa hai miền Nam Bắc" và công nhận một số ít trường hợp quan hệ đa thê đối với những cán bộ miền nam tập kết ra bắc mà lấy lại vợ hoặc chồng khác. trong những trường hợp này, pháp luật cần được vận dụng một cách linh hoạt. Kết hôn với những người mất năng lực hành vi dân sự Tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định về những trường hợp cấm kết hôn đã nêu rõ: Cấm những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn. Như vậy, có thể nói quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là một quy định hết sức cần thiết, phù hợp với quy luật tự nhiên của quan hệ hôn nhân, đảm bảo hạnh phúc thực sự của gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 ra đời đã bỏ quy định về cấm người mắc bệnh hoa liễu kết hôn. Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng một lần nữa thống nhất với các văn bản khác và đưa ra quy định không đưa người mắc bệnh HIV vào những trường hợp cấm kết hôn. Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc Tại khoản 3, khoản 4 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đã chỉ rõ những trường hợp cấm kết hôn bao gồm: "Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng". Xét về mặt khoa học, việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống để nhằm đảm bảo cho sự phát triển khỏe mạnh của con cái, sự phát triển bền vững và hạnh phúc của gia đình. Xét về yếu tố phong tục, tập quán và những quy định về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực văn hóa theo xã hội Việt Nam, thì việc cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau còn có tác dụng làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình, phù hợp với đạo đức và truyền thống từ xưa đến nay của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, hiện tượng kết hôn cận huyết vẫn tồn tại ở một số dân tộc miền núi và vẫn là một vấn đề vô cùng nhức nhối. Kết hôn giữa những người cùng giới tính Một trong những chức năng không thể thiếu được của gia đình đó chính là chức năng sinh sản. Mà chức năng này chỉ có thể được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau về giới tính. Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đã dựa trên căn cứ thực hiện chức năng của gia đình và không thừa nhận kết hôn đồng giới. Trên thế giới, các cặp đồng tính đã phản ứng rất mạnh mẽ đòi quyền tự do kết hôn, một số nước như Thụy Điển, Đan Mạch hay Mĩ đã thừa nhận và cho phép kết hôn giữa những cặp đồng tính. Hiện nay, việc có công nhận hôn nhân đồng giới hay không đang là vấn đề nhạy cảm và rất được quan tâm trong quá trình lấy ý kiến về Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về đăng ký kết hôn Điểm mới nổi bật của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đó là các quy định về việc đăng ký kết hôn đã cụ thể hơn và mang tính ràng buộc cao hơn. Đăng ký kết hôn là một nghi thức bắt buộc, chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc kết hôn cho họ thì giữa họ mới phát sinh quan hệ vợ chồng. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn cũng được quy định rõ theo Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn. Như vậy có thể nhận xét về tình trạng kết hôn vi phạm điều kiện đăng ký hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Và những vi phạm đó thường là chỉ được phát hiện khi hai bên có yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án. Điều đó chứng tỏ, những vi phạm này là những vi phạm rất khó nhận biết, tuy không ảnh hưởng nhiều đến quyền và lợi ích của các bên nhưng lại gây khó khăn cho các cơ quan quản lý hộ tịch trong việc xác định quan hệ hôn nhân, tình trạng hôn nhân của các công dân. Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân trái pháp luật không phù hợp với bản chất của quan hệ hôn nhân, đi trái với lợi ích mà pháp luật quan tâm bảo vệ. Vì vậy Nhà nước dùng biện pháp cưỡng chế đối với những vi phạm là buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống trong quan hệ vợ chồng. Điều đó thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trước những hành vi vi phạm trong việc kết hôn và cũng khẳng định rằng trong việc kết hôn thì lợi ích của những người kết hôn phải phù hợp với lợi ích gia đình và xã hội. Luật gia Nguyễn Minh Hải - Trưởng phòng Tư vấn doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Everest

Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm các trường hợp cấm thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp. Điều đó có nghĩa, chỉ khi tuân thủ các điều kiện kết hôn, thì cuộc hôn nhân mới có giá trị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng.

Luật gia Nguyễn Minh Hải - Trưởng phòng Tư vấn doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Everest

Có thể hiểu, kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định, cụ thể vi phạm về độ tuổi, về ý chí, vi phạm các trường hợp cấm kết hôn do pháp luật quy định. 

Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì, nam nữ kết hôn với nhau phải tuân thủ các điều kiện như: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở và việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn. Cụ thể, việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp: Đối với người đang có vợ hoặc chồng; người mất năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn

Độ tuổi là một trong số những điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 với nội dung như sau: "Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên". Theo đó, vi phạm về độ tuổi kết hôn là trường hợp một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi quy định, trường hợp kết hôn vi phạm về độ tuổi còn được gọi là tảo hôn. Ngày nay, xã hội đã có những bước phát triển lớn, cách nhìn nhận của con người về hôn nhân, gia đình đã đúng đắn hơn rất nhiều, hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi phần lớn chỉ còn tồn tại ở một số dân tộc miền núi, thiểu số. Đường lối xử lý cũng hết sức mềm dẻo, căn cứ vào tình trạng thực tế của cuộc hôn nhân mà có trường hợp xử hủy kết hôn trái pháp luật, có trường hợp không hủy kết hôn.

Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện
 Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam nữ được pháp luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận và quy định những điều kiện riêng. Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữ khi kết hôn, theo đó "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở". Trái ngược với sự tự nguyện đó chính là những hành vi ép buộc, lừa dối hoặc "cưỡng ép, cản trở" các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân là những hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Kết hôn vi phạm sự tự nguyện là một hiện tượng diễn ra khá phổ biến trong xã hội phong kiến, nhất là đối với những gia đình có địa vị thấp kém trong xã hội. Ngày nay, hiện tượng này chủ yếu tồn tại ở một số dân tộc miền núi điển hình như tục "cướp vợ" của người H’Mông.

Kết hôn với những người đang có vợ hoặc có chồng
 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đã khẳng định một trong những nguyên tắc của hôn nhân đó là hôn nhân một vợ - một chồng. Do đó, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn với người đã có chồng hoặc đã có vợ là kết hôn trái pháp luật. Đây chính là bản chất tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật về Hôn nhân và gia đình của nước ta - một nước xã hội chủ nghĩa so với nhà nước phong kiến hoặc tư sản. Theo pháp luật Việt Nam, thì một người đã có vợ hoặc có chồng nhưng vợ hoặc chồng đã chết, thì được kết hôn với người khác. Sự kiện một người chết có thể hiểu theo hai ý, đó là chết sinh học và chết pháp lý. Điều cần lưu ý ở đây chính là trường hợp chết pháp lý, tức là một người bị Tòa án tuyên bố chết nhưng sau đó lại trở về. Một trường hợp nữa vẫn tồn tại ở Việt Nam đến tận bây giờ đó là những quan hệ hôn nhân xác lập trước ngày Nghị quyết số 76 ngày 25/3/1977 của Quốc hội về việc "Thống nhất pháp luật giữa hai miền Nam Bắc" và công nhận một số ít trường hợp quan hệ đa thê đối với những cán bộ miền nam tập kết ra bắc mà lấy lại vợ hoặc chồng khác. trong những trường hợp này, pháp luật cần được vận dụng một cách linh hoạt.

Kết hôn với những người mất năng lực hành vi dân sự

Tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định về những trường hợp cấm kết hôn đã nêu rõ: Cấm những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn. Như vậy, có thể nói quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là một quy định hết sức cần thiết, phù hợp với quy luật tự nhiên của quan hệ hôn nhân, đảm bảo hạnh phúc thực sự của gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 ra đời đã bỏ quy định về cấm người mắc bệnh hoa liễu kết hôn. Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng một lần nữa thống nhất với các văn bản khác và đưa ra quy định không đưa người mắc bệnh HIV vào những trường hợp cấm kết hôn.

Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc
 Tại khoản 3, khoản 4 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đã chỉ rõ những trường hợp cấm kết hôn bao gồm: "Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng". Xét về mặt khoa học, việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống để nhằm đảm bảo cho sự phát triển khỏe mạnh của con cái, sự phát triển bền vững và hạnh phúc của gia đình. Xét về yếu tố phong tục, tập quán và những quy định về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực văn hóa theo xã hội Việt Nam, thì việc cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau còn có tác dụng làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình, phù hợp với đạo đức và truyền thống từ xưa đến nay của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, hiện tượng kết hôn cận huyết vẫn tồn tại ở một số dân tộc miền núi và vẫn là một vấn đề vô cùng nhức nhối.

Kết hôn giữa những người cùng giới tính
 Một trong những chức năng không thể thiếu được của gia đình đó chính là chức năng sinh sản. Mà chức năng này chỉ có thể được thực hiện bởi hai chủ thể khác nhau về giới tính. Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đã dựa trên căn cứ thực hiện chức năng của gia đình và không thừa nhận kết hôn đồng giới. Trên thế giới, các cặp đồng tính đã phản ứng rất mạnh mẽ đòi quyền tự do kết hôn, một số nước như Thụy Điển, Đan Mạch hay Mĩ đã thừa nhận và cho phép kết hôn giữa những cặp đồng tính. Hiện nay, việc có công nhận hôn nhân đồng giới hay không đang là vấn đề nhạy cảm và rất được quan tâm trong quá trình lấy ý kiến về Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi.

Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về đăng ký kết hôn
 Điểm mới nổi bật của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đó là các quy định về việc đăng ký kết hôn đã cụ thể hơn và mang tính ràng buộc cao hơn. Đăng ký kết hôn là một nghi thức bắt buộc, chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc kết hôn cho họ thì giữa họ mới phát sinh quan hệ vợ chồng. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn cũng được quy định rõ theo Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

Như vậy có thể nhận xét về tình trạng kết hôn vi phạm điều kiện đăng ký hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Và những vi phạm đó thường là chỉ được phát hiện khi hai bên có yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án. Điều đó chứng tỏ, những vi phạm này là những vi phạm rất khó nhận biết, tuy không ảnh hưởng nhiều đến quyền và lợi ích của các bên nhưng lại gây khó khăn cho các cơ quan quản lý hộ tịch trong việc xác định quan hệ hôn nhân, tình trạng hôn nhân của các công dân.

Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân trái pháp luật không phù hợp với bản chất của quan hệ hôn nhân, đi trái với lợi ích mà pháp luật quan tâm bảo vệ. Vì vậy Nhà nước dùng biện pháp cưỡng chế đối với những vi phạm là buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống trong quan hệ vợ chồng. Điều đó thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trước những hành vi vi phạm trong việc kết hôn và cũng khẳng định rằng trong việc kết hôn thì lợi ích của những người kết hôn phải phù hợp với lợi ích gia đình và xã hội.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.

Về chế định mang thai hộ

Cho phép mang thai hộ là một quy định hoàn toàn mới trong Luật hôn nhân và đình sửa đổi. Mặc dù đây không phải là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam bởi việc mang thai hộ vẫn diễn ra trong đời sống thực tế và là nguyện vọng chính đáng của những cặp vợ chồng chưa có con mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh con.


Luật gia Nguyễn Minh Hải - Trưởng phòng Tư vấn doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Everest

Chế định mang thai hộ nhận được sự quan tâm của xã hội bởi sự thay đổi chính sách từ việc nghiêm cấm hoàn toàn đến cho phép mang thai hộ. Sự thay đổi này thể hiện một bước tiến trong công tác xây dựng pháp luật là xây dựng chính sách gắn liền với thực tiễn cuộc sống.
Tuy nhiên, do lần đầu được cụ thể hóa thành luật những vấn đề về mang thai hộ như điều kiện mang thai, quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai, bên mang thai và con … nội dung này cần phải được nhìn nhận, trao đổi cụ thể và toàn diện để chính sách được ban hành hoàn thiện và có tính khả thi.

 Điều kiện mang thai hộ
 a) Luật quy định điều kiện đầu tiên để một cặp vợ chồng có quyền nhờ mang thai hộ là có xác nhận của tổ chức y tế về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Quy định này có thể được hiểu rằng vợ chồng chỉ được nhờ mang thai hộ nếu đã áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng không có kết quả. Nếu nhằm hạn chế tối đa việc mang thai hộ vì những hệ lụy mà nó mang lại thì quy định này sẽ đạt được mục đích, tuy nhiên nếu để nhằm mục đích hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng vô sinh thực hiện khát vọng, nhu cầu làm cha mẹ, thì quy định này mới chỉ hỗ trợ, tạo điều kiện cho những cặp vợ chồng có điều kiện kinh tế khá giả. Bởi vì, theo hiểu biết của người viết thì hiện nay ở Việt Nam có hai kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến là thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm, chi phí trung bình cho mỗi lần thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là khoảng 50-60 triệu đồng (thậm chí cao hơn). Như vậy, sau khi đã bỏ ra một khoản tiền rất lớn để thực hiện thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm không thành, họ phải bỏ ra một khoản chi phí tương đương và thậm chi cao hơn để sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhằm thực hiện việc mang thai hộ. Như vậy, quy định này vô hình chung chỉ mới hỗ trợ cho người giàu, còn với người nghèo lại rất khó khả thi. Do vậy, cơ quan soạn thảo nên cân nhắc thêm để bỏ điều kiện “ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” để tránh hiểu lầm khi áp dụng pháp luật.
 b) Luật quy định người được nhờ mang thai hộ phải là người thân thích của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Việc quy định này là nhằm phòng ngừa khả năng mua bán trẻ em, đẻ thuê hoặc vì lý do tình cảm gần gũi giữa người mang thai hộ và con. Tuy nhiên, việc hạn chế này nên cân nhắc thêm vì lý do sau:
 Nếu xảy ra trường hợp cả hai vợ chồng nhờ mang thai hộ không có người thân thích hoặc người thân thích không đủ điều kiện như quy định hoặc người thân thích không đồng ý mang thai hộ thì vợ chồng này hầu như khó có cơ hội để có được người con mang huyết thống của mình như nguyện vọng. Vì vậy, để có sự hài hòa trong quản lý nhà nước về tình trạng thương mại hóa mang thai hộ hoặc mua bán trẻ em có thể xảy ra nếu mở rộng người được nhờ mang thai hộ và khao khát chính đáng của những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con, cơ quan soạn thảo nên cân nhắc quy định theo hướng: ưu tiên những người là quan hệ thân thích, trong trường hợp bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ không có người thân thích thì có thể nhờ người khác mang thai hộ nếu có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp này, Luật có thể bổ sung thêm điều kiện người được nhờ mang thai hộ phải có địa chỉ thường trú, tạm trú rõ ràng để dễ dàng cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát vấn đề.
 c) Như vậy, các điều kiện mang thai hộ quy định tại Luật chỉ mới dừng lại ở việc quy định điều kiện cần thiết để thực hiện được việc mang thai mà chưa đề cao tính chịu trách nhiệm của các bên đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình và chưa bảo vệ quyền lợi tuyệt đối cho con từ khi là một thai nhi cho đến khi được sinh ra. Do vậy, nên bổ sung thêm điều kiện mang thai hộ đó là: các bên chỉ đủ điều kiện để thực hiện việc mang thai hộ nếu có sự cam kết về việc thực hiện các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng thai nhi và các cam kết về việc giao, nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc bé trong mọi trường hợp kể từ khi bé được sinh ra.
 Ngoài ra, Luật cũng cần cân nhắc bổ sung quy định điều kiện của người được nhờ mang thai hộ đó là: phải được tiêm các loại vắcxin quan trọng có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi và sức khỏe của người mang thai trước khi quyết định mang thai. Việc cân nhắc này là cần thiết bởi vì trên thực tế những rủi ro trong thời kỳ mang thai cho mẹ và bé là rất phổ biến, không những ảnh hưởng trực tiếp đến họ mà còn để lại gánh nặng cho xã hội nếu sinh ra những em bé bị dị tật. Trong lúc đó, hiện tại có một số loại vắc xin được khuyến cáo nên tiêm trước khi quyết định mang thai 03 tháng để hạn chế rủi ro. Do vậy, nếu chỉ quy định đã được tư vấn về y tế như Luật thì không bảo đảm cho những lo ngại trên.

Các Luật sư, chuyên gia Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện; dịch vụ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218.

 Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ
 Vấn đề sức khỏe của người mang thai và thai nhi trong trường hợp mang thai hộ rất khác với trường hợp mang thai tự nhiên vì phải có sự hỗ trợ của kỹ thuật nên việc chăm sóc sức khỏe cho họ cũng cần phải được quan tâm hơn. Do vậy nếu chỉ quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản….như Luật là chưa đảm bảo sức khỏe cho người mang thai và thai nhi. Luật cần phải có những quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ trong vấn đề này, cụ thể: (1) người mang thai hộ có quyền được chăm sóc và kiểm tra sức khỏe trong quá trình mang thai theo tư vấn của bác sỹ và được chi trả các chi phí liên quan đến vấn vấn đề này. (2) người mang thai hộ có nghĩa vụ phải quan tâm, chăm sóc sức khỏe của thai nhi và thông báo về tình hình sức khỏe của mình và thai nhi cho người nhờ mang thai hộ. Việc bổ sung những quy định này cần được cân nhắc bởi vì sự phát triển bình thường của thai nhi phụ thuộc gần như hoàn toàn vào chế độ dinh dưỡng, sự quan tâm, tình cảm và tình trạng sức khỏe của người mang thai. Trong lúc đó, người chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cuối cùng với đứa trẻ lại là người nhờ mang thai hộ, do vậy họ nên có quyền được biết những thông tin về sức khỏe của cả hai để cùng nhau chăm sóc, đảm bảo sinh ra em bé khỏe mạnh, bình thường.

 Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ
 a) Luật quy định: Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tế bởi vì khi bé còn nằm trong bụng thì sự phát triển của bé hoàn toàn phụ thuộc vào người mang thai. Tuy nhiên, có một ngoại lệ là nếu thai nhi được xác định mang bệnh hiểm nghèo như khuyết tật tim bẩm sinh, bị mắc hội chứng down hoặc những dị tật bẩm sinh khác thường được bác sỹ tư vấn nên cân nhắc để chấm dứt thai kỳ. Trong trường hợp thông thường sẽ do bố mẹ là người quyết định cuối cùng, tuy nhiên đối với trường hợp mang thai, hộ Luật chỉ cho phép người mang thai có quyền quyết định tiếp tục hay không tiếp tục mang thai. Trong lúc đó, người có nghĩa vụ cuối cùng trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng em bé kể từ thời điểm được sinh ra lại là người nhờ mang thai hộ. Nếu xảy ra trường hợp người mang thai được bác sỹ khuyên nên cân nhắc để chấm dứt thai kỳ. Tuy nhiên, do trong quá trình mang thai, hai bên có sự mâu thuẫn trầm trọng trong việc thực hiện các thỏa thuận, người mang thai không thông báo lại cho người nhờ mang thai và quyết định giữ thai để trả thù. Vì theo quy định của Luật chỉ có người mang thai mới có quyền quyết định chấm dứt thai kỳ, bên nhờ mang thai không được từ chối nhận con và họ chỉ có quyền và nghĩa vụ với con kể từ thời điểm con được sinh ra, do vậy họ không có quyền can thiệp trong trường hợp này. Vì vậy, quy định như Luật sẽ có khả năng dẫn đến thực tế là sinh ra những đứa trẻ bị bệnh hiểm nghèo, dị tật nặng khó có cơ hội sống sót hoặc sẽ sống đời sống thực vật….điều này không những là nỗi đau của các bé mà còn là nỗi đau, gánh nặng cho người nhờ mang thai và cho toàn xã hội. Do vậy, theo người viết nên cân nhắc nghiên cứu và bổ sung quy định người nhờ mang thai hộ có quyền được biết các thông tin liên quan đến sức khỏe của thai nhi và có quyền cùng bàn bạc, quyết định về việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản.
 b) Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, Luật quy định trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không nhận con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Người viết cho rằng quy định này còn quá lỏng lẻo và khó đảm bảo tính khả thi, bởi vì trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đẻ chung của những ông bố bà mẹ trong các vụ án ly hôn đã rất khó thực hiện, hơn nữa đây là trường hợp nhờ mang thai hộ mà họ lại từ chối nhận con. Do vậy, để quy định có thể thực hiện một cách hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho con, Luật nên quy định chặt chẽ hơn, bổ sung thêm những cam kết của người nhờ mang thai hộ đối với nghĩa vụ nhận con, nuôi dưỡng, chăm sóc, cấp dưỡng cho con nhằm phòng ngừa tình trạng trốn tránh nghĩa vụ như đang xảy ra trong thực tế mà pháp luật hiện hành chưa có biện pháp hữu hiệu để thi hành.

 Giải quyết tranh chấp liên quan đến mang thai hộ
 a) Luật quy định: trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn mà bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho đứa trẻ theo quy định của Bộ luật Dân sự. Theo người viết, quy định này mâu thuẫn với quy định “Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan” của Luật và với Điều 61, Điều 63 Bộ luật Dân sự. Bởi vì, theo Luật giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình nhờ mang thai hộ có mối quan hệ như quan hệ huyết thống, họ có các quyền và nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhau…Trong lúc đó, Điều 61 Bộ luật Dân sự quy định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ được xác định như sau:
 “-  Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
 -  Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ”.
 Điều 63 Bộ luật Dân sự quy định trong trường hợp người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.
 Như vậy, căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự với quy định của Luật về mối quan hệ của con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ thì người giám hộ đương nhiên cho con trong trường hợp mang thai hộ mà bên nhờ mang thai hộ không còn phải là ông, bà nội ngoại, cô bác…và Tòa án chỉ thực hiện việc chỉ định người giám hộ nếu không có người giám hộ đương nhiên.
 b) Ngoài ra, Luật chưa xác định chính xác người ưu tiên được quyền nhận nuôi con trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn. Theo người viết, nếu không xác định cụ thể về vấn đề này sẽ dẫn ra tranh chấp về quyền nuôi con giữa người mang thai hộ với các thành viên khác trong gia đình bên nhờ mang thai hộ nếu bên nhờ mang thai hộ không còn. Để tránh những tranh chấp có thể xảy ra và để bảo vệ quyền lợi cho con, Luật nên cân nhắc bổ sung quy định: Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn thì bên mang thai hộ có quyền được nhận nuôi con. Nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi con thì những thành viên khác trong gia đình của bên nhờ mang thai hộ có quyền được nhận nuôi con. Nếu những thành viên khác trong gia đình của bên nhờ mang thai hộ không nhận nuôi con thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho con.

Để được hỗ trợ dịch vụ thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty, thành lập văn phòng đại diện, Quý vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6218 để yêu cầu cung cấp dịch vụ:

Địa chỉ: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6218 - Hotline: 0936.949.998 (Luật sư Nguyễn Minh Hải)
E-mail: minhpham.everest@gmail.com, Hoặc: info@luatviet.net.vn.